Nếu bạn đang le lói ý định du học Đức, thậm chí đã có một kế hoạch cụ thể cho mình rồi. Thì cũng đừng ngần ngại mua cho mình cuốn sách này. Bạn sẽ tìm thấy vô số điều bổ ích đấy.
Sách Nước Đức Trong Lòng Bàn Tay của tác giả Trần Mai là một cuốn cẩm nang du học Đức thực thụ.
Với môi trường học tập an toàn, năng động và hiện đại, Đức được coi là một trong những điểm du học hàng đầu thế giới khi có rất nhiều trường học, chương trình học sinh viên không phải trả bất cứ khoản học phí nào. Điều này được áp dụng đối với cả các sinh viên nước ngoài. Hãy bắt đầu từ cuốn sách Nước Đức trong lòng bàn tay cuốn cẩm du học của tác giả Trần Mai, nếu bạn đang có kế hoạch đi du học Đức. Ngay cả khi, bạn chưa có kế hoạch gì thì rất có thể du học Đức là một trong những lựa chọn của bạn.
Trong cuốn sách này, tác giả sẽ kể cho bạn nghe về con đường du học của mình, về những kinh nghiệm với đủ cả nắng ấm và mưa rào, để bạn cân nhắc trước khi đưa ra lựa chọn cho bản thân. Lẽ dĩ nhiên là con đường của bạn rồi sẽ khác. Năm tháng qua đi, chỉ có những trải nghiệm và ký ức sẽ được lưu giữ. Dù cuối cùng, bạn quyết định như thế nào thì cũng hy vọng rằng, bạn đã sống trọn vẹn không có điều gì phải nuối tiếc.
Cuốn sách này sẽ giúp bạn:
Lên kế hoạch đi du học ở Đức.
Tự chuẩn bị các bước trong hành trình đi du học.
Có một cái nhìn đa chiều về cuộc sống du học ở Đức.
Hiểu biết thêm về văn hóa, con người Đức.
Định hướng cho cuộc sống sau khi tốt nghiệp.
Mình xin trích một câu nói tâm đắc trong cuốn sách:
“Nếu bạn không thử thì sao biết được là không thể”
Chúng ta hãy cùng nhau cố gắng để đạt được những giấc mơ của bản thân mình. Biến nó thành điều có thể nhé các bạn.
Còn nếu bạn nào đang mông lung, chưa có thời gian đọc sách nhưng muốn được tư vấn miễn phí, nhanh chóng thì hãy liên hệ Viện Quản trị Nhân lực Quốc tế nhé.
Đức vốn được biết là một trong những quốc gia yêu cây xanh. Hằng năm, cùng với một số quốc gia khác trên thế giới, Đức cũng tổ chức ngày Arbor Day, tức là ngày Cây Xanh.
Vì vậy cũng không có gì ngạc nhiên khi trong rất nhiều câu thành ngữ, họ cho những hình ảnh Cây (bäume), Rừng (wälder) vào.
Cây thường xanh là một phần của núi rừng nước Đức. Wald, thuật ngữ tiếng Đức chỉ rừng, hay Baum (cây), là những từ xuất hiện trong nhiều thành ngữ, câu nói tiếng Đức hàng ngày.
Dưới đây là một số câu thành ngữ Viện QTNLQT sưu tầm được. Đi cùng mỗi thành ngữ tiếng Đức sẽ là những thành ngữ tiếng Anh có nghĩa tương đương.
1. Holz in den Wald tragen (“carry coals to Newcastle” or “bring owls to Athens). Chở củi vào rừng: Làm những điều không cần thiết, rườm rà.
2. Den Wald vor lauter Bäumen nicht sehen (can’t see the forest for the trees). Quá chú ý đến tiểu tiết mà không nhìn nhận vấn đề một cách khái quát.
3. Pfeifen im Walde (whistling in the dark). Trấn an bản thân, tự khích lệ bản thân trong những trường hợp xấu
4. Wie man in den Wald hineinruft, so schallt es heraus (what goes around, comes around). Câu này gần với câu thành ngữ: Gieo nhân nào gặp quả ấy. Hãy đối xử tốt với mọi người như cách bạn muốn người khác đối xử với bạn.
5. Es herrscht Schweigen im Walde (the cat’s got their tongue): gần giống câu Ngậm phải hến của Việt Nam, chỉ một người ngại ngùng không dám hoặc không muốn mở miệng nói.
Câm như hến
6. Sich wie die Axt im Walde benehmen: (Behave like a bull in a China shop): vụng về, lóng ngóng, hoặc chỉ những người không biết cách cư xử và khiến người khác mất lòng.
Chúc các bạn học tốt và vận dụng được những câu thành ngữ này vào thực tế nhé.
Cũng như tiếng Anh hoặc một số ngôn ngữ khác, tiếng Đức cũng có các thì, các thì giúp sự vật, sự việc diễn tả được đúng thời gian, sắc thái, đặc điểm. Vậy tiếng Đức có những Thì nào? Cách sử dụng như nào?
Hãy cùng Viện QTNLQT tìm hiểu nhé!
Văn phạm tiếng đức có 6 thì(sechs grammatische Tempora) như sau:
– Das Präsens: thì hiện tại – Das Präteritum: thì quá khứ Präteritum (quá khứ gần, mới xảy ra, hầu như không dùng cho văn nói, dùng nhiều cho văn viết) – Das Perfekt: thì quá khứ Perfekt (thường dùng trong văn nói, nếu là văn viết thì thường ở dạng hồi ký, nhật ký,…) – Das Plusquamperfekt: thì quá khứ Plusquamperfekt (dùng cho cả nói và viết) – Das Futur I: thì tương lai I ( tương lai gần) – Das Futur II: thì tương lai II (tương lai xa hơn)
Quá khứ ==> Hiện tại <== Tương lai
Plusquamperfekt ==> Perfekt (dùng cho văn nói) ==> Präteritum ==> Präsens (Hiện tại)<== Futur I + II)
6 thì trong tiếng Đức
I. THÌ HIỆN TẠI (Präsens)
Thì hiện tại dùng để:
1. Diễn tả một hành động xảy ra trong thời điểm hiện tại.
Ví dụ: Es klopt. (Có tiếng gõ (cửa).)
Jetzt muss ich gehen. (Bây giờ tôi phải đi.)
2. Diễn tả một sự kiện, một quá trình kéo dài đến thời điểm hiện tại.
Ví dụ: Meine Tochter studiert (jetzt) in Berlin. (Con gái của tôi học ở Berlin
Jeden Tag gehe ich in die Schule. (Mỗi ngày tôi đi đến trường.)
3. Diễn tả những hành động, sự kiện sẻ xảy ra trong tương lai, nhất là khi trong câu có các yếu tố chỉ thời gian sắp đến.
Ví dụ: In einem Monat haben die Kinder Sommeferien. (Một tháng nữa bọn trẻ được nghĩ hè.)
4. Dùng để nói đến một câu phát biểu tổng quát, một chân lý và thành ngữ, tục ngữ.
Ví dụ: Die Erde bewegt sich um die Sonne. (Trái đất quay quanh mặt trời.)
Die Winkelsumme im Dreieck beträgt 180º. (Tổng các góc trong một tam giác là 180 độ.)
Eis schmilzt bei 0º Celcius. (Nước đá tan ở 0º độ C.)
5. Khi dùng với các từ như wohl(có thể, chắc là), sicher(nhất định, chắc chắn), doch(chính thế), câu dùng ở thì hiện tại diển tả ý phỏng đoán.
Ví dụ: Er arbeitet wohl. (Có lẽ anh đang làm việc.)
Du bist doch am Abend zurück? (Tối anh trở về chứ?)
6. Thì hiện tại ở Indikativ có thể là một mệnh lệnh.
Ví dụ: Du gehst! (Mày đi đi!)
Ihr schweigt und wartet, bis ihr gefragt werdet! (Chúng mầy phải im lặng và chờ cho đến khi được hỏi đến!)
7. Thì hiện tại dùng làm “hiện tại của lịch sử” khi diễn đạt sự kiện đã xảy ra.
Ví dụ: 15.Februar 1781: Lessing stirbt. (15 tháng 2 năm 1781: Lessing từ trần.)
1867: Das Kapital (1.band) erscheint. (1967: tập 1 của bộ „Tư Bản“ phát hành.)
Im Jahr 55 v.Chr. laden die Römer in Britannien. ( Năm thứ 55 trước Công Nguyên. những người La-mã đổ bộ lên nước Anh.)
II. THÌ QUÁ KHỨ PRÄTERITUM (Das Präteritum)
1. Thì Präteritum dùng để diễn đạt những sự việc đã xảy ra trong quá khứ đã được xác định bởi một mốc thời gian.
Ví dụ: Schiller wurde 1759 in Marbach geboren. (Schiller sinh n ăm 1759 ở Marbach.)
2. Thì Präteritum thường dùng trong câu có các yếu tố chỉ thời gian đã qua như gestern(ngày hôm qua), im vorgien Jahr(năm trước),neulich(vừa mới đây) v.v…
Ví dụ: Er arbeitete (gestern) den ganzen Tag. (Hôm qua anh ấy làm việc cả ngày.)
3. Thì Präteritum thường được dùng khi người kể chuyện (ở hiện tại) hồi tưởng lại những chuyện đã diển ra trong quá khứ.
Ví dụ: Erinnerst du dich noch, wie wir oft nachmittags in dem Garten saßen, wie es recht schön war, wie die Rosen dufteten und die Sonne von dem Himmel schien? (Anh có nhớ không, dạo ấy buổi chiều chúng ta thường ngồi trong vườn, đẹp biết bao khi nhưng bông hoa hồng tỏa hương và ánh nắng mặt trờii chiếu rọi?)
4. Thì Präteritum cũng được dùng để diễn đạt ý nghĩa, suy nghĩ.
Ví dụ: Er dachte angestrengt nach. Wie konnte das geschehen?(Anh ta cố nhớ lại. Làm sao mà chuyện ấy xảy ra được?)
5. Khi muốn mô tả hai sự kiện xảy ra cùng một thời điểm trong quá khứ, người ta thường dùng Präterium.
Ví dụ: Während sie gingen, sprachen sie miteinander. (Trong khi đi đường, họ nói chuyện với nhau.)
III. THÌ QUÁ KHỨ PERFEKT (Das Perfekt)
1. Thì quá khứ Perfekt diễn tả những sự việc đã xảy ra trong quá khứ. Người ta thường dùng Perfekt trong đàm thoại.
Ví dụ: Wir haben gestern die Stadt besichtigt. (Hôm qua chúng tôi đã tham quan thành phố.)
Ich habe die ganze Nacht nicht geschlafen. (Tôi đã không ngũ suốt đêm.)
2. Thì quá khứ Perfekt cũng dùng để diễn đạt sự việc đã được khẳng định và đã kết thúc rồi.
Ví dụ: Gestern Abend hat sich an der Albertbrücke ein schwerer Verkehrsunfall ereignet. Die Polizei hat festgestellt, dass er durch die Straßenglatte verursacht worden ist. (Tối qua, một tai nạn giao thông nghiêm trường đã xảy ra trên cầu Albert. Cảnh sát xác định nguyên nhân là do đường quá trơn trợt.)
Regnet es noch? Ja, es hat geregnet. (Trời còn đang mưa à? Vâng, trời đã mưa.)
3. Người ta cũng dùng thí quá khứ Perfekt để diễn đạt một sự việc sẽ xảy ra và hoàn tất trong tương lai (thay cho thì tương lai II).
Ví dụ: Bis zum nächsten Jahr hat er sein Studium abgeschlossen.(đến năm sau thì anh ta sẽ hoàn tất khóa học.)
Morgen haben wir es geschafft. (Ngày mai chúng ta sẽ hoàn thành việc ấy.)
IV. THÌ QUÁ KHỨ PLUSQUAMPERFEKT
1. Thì quá khứ Plusquamperfekt dùng để diễn tả những sự việc đã xảy ra và kết thúc trong quá khứ.
Ví dụ: Er war schon zu hause angekommen. (Ông ta đã về đếnnhà.)
2. Nếu muốn diễn tả hai sự việc đã diễn ra ở hai thời điểm khác nhau trong quá khứ thì sự việc nào diển ra trước được dùng ở thì Plusquamperfekt, còn sự việc xảy ra sau sẽ ở thì Präteritum.
Ví dụ: Als ich die Arbeit beendet hatte, rief ich den Freund an.(Sau khi đã làm xong việc, tôi đã gọi điện thoại cho bạn.)
Er gestand, dass er das Buch gestohlen hatte. (Nó thú nhận, rằng nó đã đánh cấp quyển sách.)
V. THÌ TƯƠNG LAI I (FUTUR I)
1. Thì tương lai I thường được dùng để diễn tả một sự việc có thể xảy ra trong hiện tại.
Ví dụ: Er wird jetzt im Büro sein. (Có lẽ bây giờ ông ta ở trong văn phòng.)
Sie wird schon längst in Rom sein. (Có lẽ cô ấy đã đến Rom lâu rồi.)
2. Thì tương lai I thường để diễn tả một lời phát biểu trước về sự việc sẽ xảy ra trong tương lai.
Ví dụ: Unsere Gruppe wird (im nächsten Sommer) im Ferienlagerarbeiten. (đội của chúng ta sẽ làm việc trong một trại hè (vào mùa hè tới).
3. Một vài điều lưu ý:
a. Thì tương lai I được dùng ở ngôi thứ 1 là lời khẳng định chắc chắn.
Ví dụ: Dem werde ich helfen! (Tôi sẽ giúp đỡ hắn!)
Ich werde darauf bestehen. (Tôi sẽ vượt qua được.)
b. Thì tương lai I được dùng ở ngôi thứ 2 là lời yêu cầu, mệnh lệnh mạnh mẽ, cương quyết.
Ví dụ: Ihr werdet die Aufgaben bis morgen erledigen! (đến ngày mai các em phải làm xong bài tập!)
Du wirst dich jetzt bei Herrn Riedel entschuldigen! (Bây giờ anh phải xin lỗi ông Riedel!)
c. Thì tương lai I thường dùng để diễn tả một lời phỏng đoán cho hiện tại hoặc tương lai (thường ở ngôi thứ 3).
Ví dụ: Er wird sich auf seine Prüfung vorbereiten. (Nó sẽ chuẩn bị cho kỳ thi.)
Er wird morgen (sicher) pünktlich zurück sein. (Ngày mai, anh ấy (chắc chắn) sẽ trở về đúng giờ.)
Das wird schon wahr sein. (điều đó sẽ trở thành sự thật.)
VI. THÌ TƯƠNG LAI II (FUTUR II)
1. Thì tương lai II diễn đạt lời phỏng đoán về những việc đã xảy ra hoàn toàn.
Ví dụ: Da werden Sie sich geirrt haben. (Có lẽ ông đã nhầm rồi đấy.)
2. Thì tương lai II cũng dùng chỉ sự việc sẽ xảy ra trong tương lai. Trong trường hợp này, ta phảI dùng cụm từ chỉ thời gian (morgen, bald, bis, Sonnabend…)
Ví dụ: Morgen wird er die Arbeit beendet haben. (Ngày mai anh ta sẽ kết thúc công việc.)
VII. SỰ PHỐI HỢP CỦA CÁC THÌ
Nếu muốn nói đến những sự việc xảy ra có liên quan với nhau và dặt trong một câu (mệnh đề chính và phụ) ta cần phải chú ý các điễm sau:
1. Hai sự việc xảy ra đồng thời ở mệnh đề chính và mệnh đề phụ thì hai sự việc đó được dùng ở cùng một thì.
Ví dụ: Wenn es regnet, bleiben wir zu Hause. (thì hiện tại) (Nếu như trời mưa, chúng ta ở nhà.)
Während er im Kino war, ging sein Freund spazieren. (quá khứ Präteritum) (Trong khi anh ta đi xem phim thì bạn anh ta đi dạo.)
2. Nếu sự việc ở mệnh đề phụ diễn ra trước sự việc ở mệnh đề chính thì phải theo qui tắc sau:
a. Nếu mệnh đề chính ở thì hiện tại (Präsens) thì mệnh đề phụ phải dùng thì quá khứ Perfekt.
Ví dụ:
Nachdem wir die Arbeit beendet haben, fahren wir nach Hause. (Sau khi đã hoàn thành công việc, chúng tôi sẽ đi về nhà.)
b. Nếu mệnh đề chính ở thì quá khứ Präterium thì mệnh đề phụ phải dùng thì quá khứ Plusquamperfekt.
Ví dụ: Nachdem wir die Arbeit beendet hatten, fuhrenwir nach hause. (Sau khi đã hoàn thành công việc, chúng tôi đi về nhà.)
3. Nếu sự việc trong mệnh đề phụ diễn ra sau sự việc của mệnh đề chính, ta đặt cả hai sự việc ở cùng một thì.
Ví dụ: Er blieb in England, bis er mit seinem Studium fertig war.(Anh ta ở lại nước Anh cho đến khi hoàn tất khoá học.)
Sie bringt das Kind in den Kindergarten, bevor sie zur Arbeit geht.(Chị ấy đưa con đến nhà trẻ trước khi đi làm.)
a. Thì Perfekt:
• Ở miền Nam nước đức, để diễn đạt sự việc xảy ra trong quá khứ, người ta thường chỉ dùng thì Perfekt. Nhất là trong đàm thoại, trong văn nói, chúng ta lại càng ít gặp dang thức Präteritum. Tuy nhiên, đối với các trợ động từ và động từ tình thái, người ta vẫn thường sử dụng dạng Prätteritum của chúng.
Ví dụ: Normalerweise hat sie eine Stunde eher gegessen, aber seit gestern konnte sie gar nichts nehmen. (Bình thường cô ta đã ăn sớm hơn một tiếng rồi, nhưng từ hôm qua cô ta không thể ăn gì.)
b. Thì quá khứ Plusquamperfekt:
Diễn đạt sự việc xảy ra, thường dùng trong câu đàm thoại.
Ví dụ: Nachdem sie einander zufällig begegnet waren, gingen sie miteinander. (Sau khi tình cờ gặp nhau, họ đã cùng đi với nhau.)
Sau một khoảng thời gian học hành, làm việc vất vả, chắc hẳn ai cũng mong muốn đến ngày nghỉ để được xả hơi. Ngày nghỉ được thoải mái làm điều mình thích. Ngày nghỉ lễ còn đặc biệt hơn chút. Vì chúng ta được dịp đi chơi đó đây.
Dưới đây là những ngày nghỉ lễ mà Viện QTNLQT đã tổng hợp. Đây chỉ là những kì nghỉ tại Đức. Cũng cần lưu ý rằng: Quyền quy định về các ngày nghỉ lễ ở Đức thuộc về thẩm quyền ở các bang. Chỉ có Ngày thống nhất nước Đức vào ngày 3. tháng 10 là được liên bang theo khuôn khổ hiệp ước quốc gia ấn định là ngày lễ quốc gia. Tất cả các ngày còn lại là do các bang tự quyết định, tuy nhiên có thêm 8 ngày lễ nữa, mà tất cả 16 bang đều cùng có. Ngoài ra tại 11 bang còn có thêm những ngày lễ riêng.
(Ở đây chúng tôi chỉ liệt kê những ngày nghỉ lễ phổ biến)
1. Ostern – Lễ phục sinh ( tính từ cuối tháng 3 đến cuối tháng 4)
Lễ phục sinh là một ngày lễ tôn giáo để tưởng nhớ sự hồi sinh của Chúa từ cõi chết, ngày lễ này chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong Đức tin của Kitô giáo. Vào ngày thứ sáu tuần Thánh (Karfreitag), chính là ngày thứ 6 trước ngày chủ nhật phục sinh, chúa Giê-su bị đóng đinh trên thánh giá theo truyền thống của Kinh thánh – vì vậy ngày này được coi là ngày tang lễ. Ngày thứ 7 là ngày cuối cùng của kì ăn chay kéo dài 40 ngày, khi mà các tín đồ của Kitô thường không ăn thịt và uống rượu để thể hiện truyền thống gột sạch tâm hồn. Tuy nhiên chỉ có một phần rất nhỏ dân số Đức ăn chay vào dịp này, chiếm chỉ khoảng 7%.
Vào cuối tuần lễ Phục sinh, mọi người thường đốt lửa trại Phục sinh. Ở giữa đống lửa trại là một hình nộm bằng rơm, gọi là Judas, tượng trưng cho kẻ phản bội. Đối với nhiều người thì việc đốt lửa Phục sinh chỉ là một truyền thống vốn có chứ cũng không mang ý nghĩa nhiều về tôn giáo. Một phong tục tương tự như vậy nữa chính là những quả trứng phục sinh với mọi kích cỡ, đủ loại màu sắc và chất liệu. Trứng thường được trang trí với cây và bụi. Những quả trứng bằng sô cô la dành cho trẻ em thường được coi là do thỏ phục sinh giấu đi vào ngày chủ nhật Phục sinh.
2. Erster Mai ( Ngày 1.5)
1.5 chính là ngày quốc tế lao động, ngày này được kỉ niệm không chỉ ở các nước châu Âu mà còn cả ở các châu lục khác. Ngày lễ này bắt nguồn từ thế kỉ 19, nguyên nhân chính là do điều kiện làm việc tồi tệ trong ngành công nghiệp: người lao động phải làm việc từ 11 đến 13 tiếng một ngày và hầu như không nhận được bảo trợ xã hội. Vào năm 1886, có khoảng 400.000 người lao động bất mãn đã cùng tổ chức một cuộc đấu tranh dài ngày để dành quyền làm việc chỉ 8 tiếng một ngày. Đến năm 1890 cuộc đấu tranh này lan sang cả các nước khác như Đức, Pháp.
Sau khi thử nghiệm coi ngày 1.5 là ngày nghỉ, vào thời kì cộng hòa Weimar khoảng năm 1933, Đức quốc xã đã tuyên bố một tư tưởng hoàn toàn trái ngược về ngày nghỉ lễ: họ coi đó là một ngày nghỉ của toàn quốc mà không liên quan đến việc lao động hay quyền của người lao động. Trong những năm 1950, giới công đoàn nhộn nhịp với truyền thống chính trị mới. Tại cộng hòa liên bang Đức, vào ngày này thường diễn ra các cuộc biểu tình, mít tinh của giới công đoàn, những người ủng hộ cho quyền của người lao động.
3. Christi Himmelfahrt ( 39 ngày sau lễ phục sinh)
Ngày lễ này luôn rơi vào thứ 5 và để tưởng nhớ ngày Chúa về trời. Theo truyền thống thì ngày 3 ngày lễ Chúa về lại với trời trong tín ngưỡng Kitô giáo được gọi là “Bitttage“. Vào dịp này, những đức tin thường đi dạo qua cánh đồng và cầu khấn cho một vụ mùa bội thu. Ngoài ra còn có một phong tục khác thông dụng hơn, gốc rễ của nó cũng xuất phát từ những cuộc đi dạo này, chính là Ngày của cha. Vào dịp này, đàn ông thường đi dã ngoại hoặc dạo quanh các nhà hàng khác nhau. Họ thường mang theo xe đẩy với bia hoặc một số loại rượu mạnh khác.
4. Tag der deutschen Einheit – Ngày Quốc khánh Đức (03.10)
Là ngày nghỉ duy nhất được ấn định theo luật của toàn liên bang. Vào ngày này người ta kỉ niệm sự tái thống nhất giữa hai miền đông và tây Đức. Năm 1949, sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2, phần phía tây nước Đức bị Mỹ, Pháp và Anh chiếm đóng, còn phần phía Đông do Liên minh Xô Viết thời đó chiếm. Từ năm 1949 đến 1990, nước Đức bị chia cắt làm 2, đó là: Cộng hòa liên bang Đức (BRD) ở phía tây và Cộng hòa dân chủ Đức (DDR) ở phía Đông.
Trong những thập kỉ sau đó nổi lên ở Cộng hòa dân chủ Đức những bất đồng với hệ thống chính trị, khi quyền lợi của công dân bị ảnh hưởng nhiều mặt. Những ai không đồng tình với chính sách của chính phủ thì sẽ bị bỏ tù. Để ngăn tình trạng người dân cố trốn từ đông sang tây, chính phủ đã cho xây dựng 1 bức tường ngăn cách giữa 2 miền. Năm 1989 nổ ra một cuộc biểu tình lớn dẫn đến sự sụp đổ của bức tường này. Vào ngày 3.10.1990, hiệp ước thỏa thuận của Đức bắt đầu có hiệu lực. Vào ngày này, cờ thống nhất được treo khắp nơi kể cả những cơ quan chức năng cao nhất cũng treo cờ và hàng ngàn người đổ ra đường để ăn mừng lễ kỉ niệm này.
5. Allerheiligen – ngày lễ các thánh (1.11)
Ngày lễ này không phổ biến trên toàn nước Đức. Đây là ngày để tưởng nhớ những vị thánh thần và những người đã khuất. Tư tưởng của ngày lễ này là người ta cho rằng, những người quá cố và Chúa đều thuộc cùng một thế giới và họ đều đang quan sát những gì diễn ra trong cuộc sống của người trần. Vào ngày này, mọi người đều tỏ lòng tôn kính với những người đã khuất, họ mang hoa đi tảo mộ và thắp nến tượng trưng cho ánh sáng của sự sống.
Chỉ đối với người Công giáo thì ngày lễ thánh mới đóng một vai trò quan trọng và với những vùng theo đạo này thì đây mới là ngày nghỉ lễ.
6. Weihnachten – Giáng sinh (24.12 – 26.12)
Giáng sinh là ngày lễ kỉ niệm sự ra đời của Chúa và được coi là ngày lễ quan trọng nhất trong Ki-tô giáo. Ngoài các nghi lễ Ki-tô giáo như đi nhà thờ, trong thời gian trước khi đến giáng sinh còn có rất nhiều những nghi thức, phong tục khác: Ở nhiều thành phố, chợ giáng sinh đông như hội, tại nhà, mọi người treo những chiếc vòng hoa làm từ cây thông, được trang trí với nến.
Những ngày trước khi đến đêm Giáng Sinh (24.12) được tính theo lịch mùa Vọng. Lịch Vọng thường bao gồm nhiều ô chứa kẹo, mỗi ngày người ta lại bóc 1 ô nhỏ trên lịch để lấy kẹo ăn, thường là sô cô la. Người ta thường tận hưởng đêm Giáng sinh và 2 ngày nghỉ lễ tiếp theo bên gia đình. Truyền thống quan trọng nhất đó chính là việc cùng nhau trang trí cây thông Noel với những quả cầu, nến và cùng nhau ăn một bữa thật ấm cúng, thường có món xúc xích nhỏ, salat khoai tây và ngỗng quay. Buổi tối là lúc của những điều bất ngờ khi mọi người cùng trao đổi quà.
7. Silvester – Giao thừa (31.12)
Silvester kỉ niệm sự qua đi của những cái cũ và đón chào những điều mới. Trọng tâm trong ngày lễ ngày là việc bắn pháo hoa vào đêm giao thừa, sau đó thường là màn ăn uống tiệc tùng cùng với bạn bè và gia đình. Truyền thống vào dịp năm mới, tạo ra càng nhiều tiếng ồn càng tốt có lịch sử lâu đời: từ ngày xưa, những người Giéc-manh đã luôn cố gắng dùng tiếng động lớn để xua đuổi ma quỷ. Ngày nay tiếng động này được thay bằng tiếng nổ của pháo hoa.
Chúc các bạn đang và sẽ sống tại Đức có những kì nghỉ lễ vui vẻ.
Khi đến sống tại một môi trường hoàn toàn mới, bạn sẽ không tránh khỏi những bỡ ngỡ. Song việc cần thích nghi, hòa nhập càng nhanh càng tốt là điều cần thiết. Bạn chắc chắn sẽ không muốn người khác nhìn mình bằng ánh mắt khó hiểu, hoặc ánh mắt hình viên đạn khi bạn có những cư xử, hành động khác với văn hóa của họ.
Dưới đây là tổng hợp một số điều cơ bản ai đến Đức cũng cần phải biết, dựa trên bộ quy tắc ứng xử Knigge – Benimmregeln của Đức.
1. Đúng giờ. (Pünktlichkeit)
Việc đến không đúng giờ theo văn hóa của nước Đức đó là một việc làm bất lịch sự, thiếu tôn trọng những người xung quanh. Và khiến cho người Đức cảm thấy rất khó chịu và thậm chí là tức giận.
Lý do thì có rất nhiều, ai cũng có thể kể ra rất nhiều lý do và nghe đều rất thuyết phục. Nhưng nếu bạn có sự chuẩn bị thật tốt và có ý thức với việc đi đúng giờ của mình thì việc đó sẽ rất ít khi xảy ra.
Như thế nào được gọi là đến đúng giờ?
Khi giờ học, giờ làm của bạn là 9 giờ sáng thì tức là đúng 9 giờ bạn phải có mặt trong phòng học hoặc nơi làm việc và chuẩn bị tư thế sẵn sàng để học và làm việc. Bạn hãy có mặt trước giờ học ít nhất là 5 đến 10 phút để thay quần áo và làm những việc lặt vặt khác…chứ không phải 9 giờ mới có mặt để thay quần áo…
Khi bạn hoặc con cái bạn được ai đó mời …thì cần phải chú ý đến giờ đến và giờ về được ghi trên thiệp. Đến đúng giờ và về đúng giờ là điều mà chủ nhà rất mong chờ ở bạn. Dù bạn có thấy họ lịch sự tươi cười thế nào thì cũng không được đến quá sớm hay ở lại quá lâu.
Khi bạn đã có Termin với một ai đó, đối với người Đức nó giống như một lời hứa và họ có trách nhiệm phải hoàn thành nó một cách tốt nhất. Trừ những trường hợp bất khả kháng. Vì thế bạn cũng đừng đơn giản bỏ Termin chỉ vì khi hẹn thì thấy thích…nhưng mà bây giờ thì lại thấy hơi lười…nên sinh ra một số lý do như mệt, tàu không chạy…
Làm gì khi đến trễ?
Khi bạn gặp phải những khó khăn đột xuất dẫn đến việc đến muộn dù là 01 phút hay 05 phút thì hãy thông báo ngay cho người có trách nhiệm hoặc liên quan biết về việc đến muộn của bạn bằng cách gọi điện hoặc nhắn tin và nêu rõ lý do để họ biết.
Những câu nói thường được sử dụng khi đến muộn.
a. entschuldigen sie bitte herr/ frau…
b. Tut mir leid Hr./Fr….
c. Entschuldigung für die Spätung…
2. Luôn phải gọi ‘‘Sie‘‘ đối với những người mới quen và không có mối quan hệ thân thiết. Tuyệt đối không được dùng ‘‘Du‘‘
Bạn sẽ dùng Du khi người giao tiếp với bạn đề nghị như vậy hoặc bạn có thể đặt câu hỏi
Kann ich Sie duzen? Nếu người ta đồng ý thì bạn có thể bắt đầu. Nhưng khi đi học thì giữa giáo viên và học sinh thường không bao giờ dùng Du mà luôn luôn dùng Sie
3. Tự trả tiền khi đi chơi
Khi đi uống nước hoặc đi ăn chơi đâu đó cùng những người khác. Thì việc ai đó tự trả tiền của người đó là một nét văn hóa đặc trưng của người Đức.
Muốn trả tiền cho người khác bạn cũng cần phải hỏi. Nếu người ta đồng ý bạn mới được phép trả. Nếu không họ cũng sẽ rất khó chịu. Vì họ quan niệm họ tự làm nuôi sống bản thân, tự chịu trách nhiệm với bản thân, không muốn phải nhờ vả dựa dẫm hay lợi dụng người khác. Và đặc biệt là không muốn phải trả nợ, vì lúc khác họ không biết là có điều kiện để trả nợ hay không.
4. Không gây ồn ào nơi cộng cộng.
Khi đi trên các phương tiện giao thông công cộng tuyệt đối không được cười nói to, nô đùa ầm ĩ. Người Đức thích yên tĩnh, nên bạn sẽ nhận được những ánh mắt khó chịu nếu bạn làm như vậy.
Tại nơi ở của bạn, bạn không được phép làm ổn ảnh hưởng đến hàng xóm xung quanh. Đặc biệt là sau 18 giờ tối, bạn không được phép khoan, cưa, mở nhạc to hay làm bất cứ việc gì gây ra tiếng ồn lớn. Gặp người hàng xóm khó tính họ sẽ gọi công an. Và nếu điều này lặp lại nhiều lần bạn có thể bị chủ nhà cắt hợp đồng và mời ra khỏi nhà.
Bạn có thể tổ chức Party vào tối thứ 6 hoặc tối thứ 7 trong tuần đến muộn, khoảng 2 giờ sáng.
Tuy nhiên trước đó 01 tuần, bạn cần phải dán giấy thông báo vào lối ra vào hoặc cầu thang máy để hàng xóm được biết và chuẩn bị trước.
5. Tuyệt đối không được ký vào bất cứ giấy tờ gì kể cả người ta có nói là miễn phí (kostenlos)
Tất cả mọi hình thức nhìn thấy trên Internet cũng không được điền thông tin cá nhân của mình vào hoặc có ai gọi điện thoại mời mọc…thì không được phép nói ‘‘Ja‘‘ mà phải nói ‘‘Nein‘‘
Vì đó cũng là một dạng ký hợp đồng.
Tuy là đất nước văn minh nhưng ở đâu cũng luôn có những người không tốt. Và người ta tìm mọi cách để lấy tiền của bạn một cách hợp pháp. Họ có cả một bộ máy hoạt động trong lĩnh vực này. Tuy nó là bất hợp pháp, nhưng những người tiêu dùng thông thường không thể tranh cãi với họ. thế nhưng nếu thuê luật sư thì phí lại rất đắt. Nên mọi người thường chịu chấp nhận mất tiền.
6. Không được xúc phạm hoặc đánh người khác. Dù là lời nói hay trên các phương tiện truyền thông khác.
Theo quy định của luật pháp Đức, đó là tội hình sự. Bạn có thể bị ngồi tù nếu vi phạm nặng và bạn sẽ bị lưu vào hồ sơ. Mọi công việc của bạn sau này trên nước Đức đều bị ảnh hưởng bởi bộ hồ sơ này.
Tốt nhất là bạn đừng làm gì vi phạm pháp luật trên nước Đức. Vì như thế cuộc sống của bạn giống như đi vào ngõ cụt vậy. Khi bạn sống trên nước Đức trách nhiệm của bạn là phải tìm hiểu pháp luật của nước sở tại. Người ta sẽ không bao giờ chấp nhận lý do là ‘‘không biết thì không có tội‘‘.
Cuối cùng, hãy nhớ câu nói của ông bà ta từ xa xưa “Nhập gia tùy tục”, dù ban đầu có bỡ ngỡ nhưng bạn hãy cố gắng thích nghi nhé!
Trong thời gian gần đây , có một số người nghĩ rằng hễ kết hôn với người Đức hay có con mang quốc tịch Đức thì sẽ tự động được cấp thẻ định cư, chưa kể một số dịch vụ tự cho rằng có thể mua được thẻ định cư dài hạn bằng cách này hay cách khác ..v..v
Không biết những người đó đã lấy thông tin từ đâu về việc có con hay chồng Đức thì sẽ được tự động cấp thẻ trong khi thông tin về việc cấp thẻ định cư dài hạn đã được phía Đức thông báo rộng rãi từ lâu. Còn việc các dịch vụ quảng cáo về việc bán thẻ định cư với giá vài chục ngàn Euro mà đã có một thời gian lan tràn trên mạng xã hội thì tôi không biết họ móc nối với ai để mua, nhưng riêng tôi lại thấy không tin tưởng lắm, vì tôi không nghĩ rằng những người làm ở Sở Ngoại Kiều chỉ vì vài chục ngàn Euro mà để mất một nghề nghiệp tốt bao gồm rất nhiều những quyền lợi mà họ khó khăn lắm mới có được.
Nhưng chuyện này tôi không quan tâm lắm, vì nếu có tiêu cực trong Sở Ngoại Kiều thì việc điều tra là chuyện của cảnh sát. Còn cái chính mà tôi chỉ muốn đề cập đến đó là một số điều kiện mà bạn phải có để được cấp thẻ định cư dài hạn.
Thẻ định cư dài hạn (Niederlassungserlaubnis)
đã được phía Đức chính thức áp dụng từ ngày 1.1.2005 theo luật cư trú §9 Abs.2 Satz 1 Aufenthalt G . Và người muốn được cấp thẻ định cư dài hạn phải có đủ một số điều kiện như sau :
** Đã sở hữu 5 năm giấy phép lưu trú ( Aufenthaltserlaubnis)
** Đảm bảo cuộc sống cho bản thân hay gia đình (nếu có)
** Không ăn trợ cấp xã hội hay thất nghiệp
** Đóng đủ 60 tháng hưu trí ( Gesetzlichen Rentenversicherung)
**Không phạm tội ở Đức hay đang bị án treo
** Có trình độ tiếng Đức tương đương chứng chỉ B1 hoặc hơn ( luật mới)
** Có đủ diện tích nhà ở theo luật định
Ngoài ra , thẻ định cư dài hạn còn được cấp cho những trường hợp khác như :
** Có trình độ cao ( §9 AG)
** Có thẻ xanh ( Blauen Karte/ EU ( §19Abs.6 AG)
** Tự hành nghề kinh doanh ( §21 Abs .4 AG)
** Được ở lại vì lý do nhân đạo ( §26Abs.3 und 4 AG)
** Có vợ/chồng quốc tịch Đức ( §28Abs. 2S.1 AG)
** Người gốc Đức hồi hương ( § 38 Abs.1Nr .1 AG )
Vậy tại sao bây giờ bắt buộc có B1 mới được cấp thẻ định cư?
Sở dĩ luật mới ra phải có B1 hay cao hơn thì càng tốt là đều xuất phát từ phía cộng đồng Hồi giáo ở Đức, vì có một số người đón vợ con sang mà theo luật đạo Hồi thì ngoài việc cô vợ không được phép đi làm mà cũng không được phép đi học tiếng (riêng việc đi học tiếng thì theo tôi nghĩ chắc do mấy ông chồng Hồi giáo bảo thủ cấm vợ mà thôi vì sợ vợ mình ra ngoài nhiều hơn ở nhà).
Mà điều này thì lại không phù hợp với luật pháp của Đức vốn coi trọng về nhân quyền nhất là sự bình đẳng nam nữ. Vì nếu đã sống lâu dài trên nước Đức thì bắt buộc phải biết tiếng Đức, vì ngoài việc giao tiếp thông thường hàng ngày trong cuộc sống và nhất là đối với với phụ nữ nhập cư, thì họ phải có trình độ giao tiếp tốt để có thể đi khám bệnh hay xin việc hoặc nói chuyện với cô giáo ở trường, hàng xóm,…
Vẫn biết rằng có nhiều sự khác nhau giữa nước Đức và một số quốc gia khác, đó là từ phong tục tập quán, văn hóa, ẩm thực, cách sống và nhất là ngôn ngữ. Chính những sự khác nhau đó đã làm cho nhiều người mệt mỏi khi sang Đức, vì họ không lường trước được là họ sẽ phải có rất nhiều nỗ lực để được một cuộc sống ổn định và hòa nhập tốt vào xã hội Đức.
Với người Việt Nam thì sao?
Ngoài ra còn có một số người Việt vì muốn có thật nhiều tiền để quay về VN sống, nên đã dành cả một thời gian dài đi làm nhiều hơn học tiếng. Thời gian duy nhất của họ chỉ biết đi làm kiếm tiền, càng nhiều càng tốt, để sau này về quê hương sống nốt quãng đời còn lại. Nhưng đời lại không như ý muốn, vì dành cả nửa cuộc đời chỉ để kiếm tiền mà tương lai vẫn mờ mịt phía trước , do dồn hết tiền bạc về VN mua nhà cửa đất đai, nhưng lại đứng tên người thân trong gia đình, rồi kết quả là tiền bạc lẫn nhà cửa đều biến mất và cũng mất luôn cả tình thân. Rốt cuộc thì của thiên lại trả về cho địa .
Nói tóm lại, tuy B1 không phải là cao lắm, nhưng ít ra người có bằng B1 cũng chứng minh được sự hòa nhập của họ vào xã hội Đức cũng như hiểu biết về văn hóa, lịch sử , phong tục và luật pháp của Đức , để họ không bị sốc văn hóa hay vi phạm luật pháp trên nước Đức.
Đó cũng là một số lý do tại sao mà luật phải có B1 mới được cấp thẻ định cư dài hạn đã được chính phủ Đức bổ sung thêm vào luật nhập cư , để ngoài việc giúp người nước ngoài có thể nhanh chóng hòa nhập vào xã hội Đức mà còn nhằm giúp họ không bị thiệt thòi về mọi quyền lợi mà nguyên nhân chính cũng chỉ vì không biết tiếng Đức mà ra .
Học tiếng Đức là một việc vô cùng thiết yếu nếu muốn du học Đức. Ngôn ngữ giúp các bạn dễ dàng hòa nhập vào cuộc sống, văn hóa cũng như môi trường học tập. Tiếng Đức không chỉ là công cụ giao tiếp thường ngày trong sinh hoạt mà còn trong học tập. Bạn sẽ phải song hành với tiếng Đức 24/24. Vậy nên khi còn ở Việt Nam, chúng ta nên đầu tư học tiếng Đức thật tốt, trang bị cho mình vốn kiến thức phong phú nhất có thể nhé.
Vì vậy, để đáp ứng nhu cầu học tiếng Đức càng ngày càng cao, Viện quản trị nhân lực Quốc tế (IHRMI) tiếp tục khai giảng tiếp lớp tiếng Đức trình độ A1 – B1.
Giáo viên giới thiệu giáo trình trong buổi học đầu tiên
1. Vì sao bạn chưa thành công với Tiếng Đức và nên chọn học tại IHRMI
Với mong muốn và quyết tâm học tiếng Đức, nhưng bạn vẫn chưa đạt được thành công với môn ngoại ngữ này. Có rất nhiều yếu tố tác động, có thể là yếu tố khách quan, có thể là yếu tố chủ quan từ bạn:
✓Bạn chưa có phương pháp học tiếng hiệu quả và chưa đầu tư thời gian phù hợp.
✓ Bạn quá chú trọng đến một kỹ năng mà bỏ quên các kỹ năng khác.
✓ Bạn học một cách máy móc và bị ảnh hưởng bởi các yếu tố tiếng Việt trong quá trình học.
✓ Bạn thiếu môi trường học tập và giao tiếp bằng tiếng Đức
✓ Các bài giảng của OLYMPIA được thiết kế phong phú nhằm giúp học viên tiếp cận được kiến thức một cách nhanh hơn.
✓ Đội ngũ giáo viên có trình độ, khả năng truyển đạt tốt
✓ Môi trường học thoải mái, vui vẻ giúp bạn có tinh thần tiếp thu bài tốt hơn
2. Tuyển sinh các đối tượng học viên:
► Những học viên có nhu cầu học tiếng để du học điều dưỡng MIỄN PHÍ tại Đức.
3. Quy mô lớp
Mỗi lớp có tối đa 8 – 10 học viên, giúp việc học thêm hiệu quả hơn.
Một nửa lớp học – Quy mô cả lớp chỉ 8 – 10 bạn
4. Giáo viên tại OLYMPIA
✓ Đội ngũ giáo viên của Trung tâm du học Olympialà những giáo viên: Tốt nghiệp Khoa Ngôn ngữ Đức trường Đại học Hà Nội, Đại học Quốc Gia Hà Nội.
✓ Đã từng Du học tại Đức và có kinh nghiệm giảng dạy
✓ Khả năng truyền đạt và sư phạm tốt. Cách tiếp cận linh hoạt, thân thiện với từng học viên
5. Lịch học và khai giảng
Khai giảng: 10/4/2019
Lịch học: thứ 2 – thứ 6 hàng tuần
Sáng: 8h – 11h30, Chiều: 13h30 – 17h30
Chúng tôi thường xuyên khai giảng các lớp tiếng Đứchàng tháng.
Các bạn nhanh chóng đăng kí để giữ chỗ cho mình nhé: http://ihrmi.com.vn/dang-ky-tu-van/
Hiện nay, xu hướng đi du học nghề ở nước ngoài với mong muốn một tương lai tốt hơn đã không còn xa lạ. Vì điều kiện sống, mức sống ở một số nước phát triển hơn hẳn ở Việt Nam. Du học nghề tại Đức cũng không nằm ngoài xu hướng đó.
Visa du học Đức của các bạn tại Viện quản trị Nhân lực Quốc tế
Vậy thủ tục xin Visa du học nghề tại Đức cần những gì? Dưới đây chúng tôi sẽ cung cấp đầy đủ thông tin cho bạn:
1. 02 đơn xin thị thực khai: Điền đầy đủ và tự tay ký tên, kèm theo bản tuyên bố theo quy định tại Mục 8, Khoản 2, Điều 54 và Điều 53 Luật Cư trú
2. Tờ khai xin thị thực: Điền tờ khai đầy đủ bằng tiếng Đức (tên phải khai đúng theo hộ chiếu) và tự tay ký tên.
3. Bản tuyên bố theo quy định tại Mục 8, Khoản 2, Điều 54 và Điều 53 Luật Cư trú Tự điền và ký tên: 02 ảnh hộ chiếu mới chụp
4. Một hộ chiếu vẫn còn giá trị và được ký tên:
Hộ chiếu phải còn hạn ít nhất 3 tháng sau khi kết thúc khóa học và có giá trị không quá 10 năm. Hộ chiếu phải còn ít nhất 2 trang trống. Các hộ chiếu còn và hết hạn khác (Bản gốc và bản photo các trang có chứa thông tin)
5. Lý lịch bằng tiếng Đức dạng bảng biểu theo trình tự thời gian liên tục
6. Các chứng nhận tốt nghiệp phổ thông, đào tạo nghề hay tốt nghiệp đại học (nếu có)
7. Chứng minh đã có kiến thức nền đối với lĩnh vực muốn học: Chứng minh bằng những bằng cấp, giấy tờ liên quan đến việc học nghề hoặc học đại học tại Việt Nam.
8. Bản trình bày về lý do muốndu học nghề tại Đức: Bạn cần nêu rõ lý do theo học ngành nghề dự kiến và việc học nghề này liên quan đến quá trình du học nghề và làm việc từ trước tới giờ của Quý vị như thế nào
9. Bản hợp đồng đào tạo nghề và giấy tờ khác hoặc một số thông tin về chương trình dạy nghề sau khóa học tiếng như:
– Chỗ học lý thuyết diễn ra ở đâu?
– Bên sử dụng lao động nào sẽ đào tạo các kỹ năng thực hành?
10. Chấp thuận của Cơ quan Lao động CHLB Đức (giấy phép lao động)
11. Chứng minh đủ khả năng tiếng Đức
Yêu cầu tối thiểu phải có bằng B1 tiếng Đức theo khung tham chiếu về trình độ ngôn ngữ chung châu Âu Chú ý: Chỉ các chứng chỉ được cấp bởi các đơn vị tổ chức thi là thành viên của Hiệp hội khảo thí ngôn ngữ Châu Âu (ALTE) và các đơn vị có chi nhánh đại diện do cán bộ được cử sang điều hành.
12. Chứng minh có đủ bảo hiểm y tế: Người nộp đơn cần phải chứng minh mình có đầy đủ bảo hiểm y tế nếu hợp đồng không đề cập đến. Trong điều khoản bảo hiểm nộp kèm phải thể hiện rõ, bảo hiểm cũng chi trả cho việc lưu trú với mục đích lao động tại Đức. Nếu trong bản hợp đồng điều khoản về bảo hiểm không được nêu, đề nghị Quý vị nộp một giấy xác nhận bổ sung của công ty bảo hiểm.
13. Đảm bảo chi phí sinh hoạt/ Chứng minh có đủ khả năng tài chính
– Thông tin về nơi ở dự kiến và tiền thuê nhà
– Cần chứng minh có ít nhất 720 Euro/tháng (sau khi đã trừ các loại phí) cho khoảng thời gian học tiếng.
– Trong thời gian du học nghề ở Đức, mọi chi phí sinh hoạt đều phải được đảm bảo chắc chắn. Chú ý: Ngoài khoản tiền lương học nghề, người nộp đơn có thể phải chứng minh thêm các nguồn tài chính khác. Học viên cần có ít nhất 800 Euro/tháng (sau khi đã trừ các loại phí). Nếu đưa ra được giấy tờ để chứng minh các khoản chi phí không phát sinh (ví dụ như: chi phí ăn ở) thì khoản tiền nói trên sẽ được giảm đi tương ứng.
Có thể chứng minh tài chính bằng cách:
– Giấy cam kết bảo lãnh nêu mục đích của việc du học nghề Đức dự kiến
– Chứng minh theo mẫu quốc gia về việc người thứ ba chịu trách nhiệm về chi phí. Đây còn gọi là Giấy cam kết. Tức là (hỏi thông tin chi tiết tại Sở Ngoại kiều phụ trách nơi cư trú của người đứng ra cam kết – người cam kết cư trú lâu dài ở nước ngoài có thể đến viết cam kết tại cơ quan đại diện của Đức có thẩm quyền đối với nơi cư trú của người đó).
14. Mở một tài khoản phong tỏa
Nộp tiền theo đúng yêu cầu vào một tài khoản phong tỏa tại Đức. Ví dụ như tại ngân hàng VietinBank hoặc Deutsche Bank)
Nhìn chung, người Đức rất nhạy cảm với những ai nói hoặc viết sai ngữ pháp. Nếu bạn nói sai ngữ pháp thì có thể tạm chấp nhận, người ta vẫn hiểu nôm na bạn nói gì. Song nếu viết sai ngữ pháp trong các bài luận văn hoặc làm Pratikum, việc sai ngữ pháp – mắc lỗi cơ bản, là điều tối kị. Vì thế, bạn cần biết những lỗi ngữ pháp nào người học hay mắc phải, từ đó tránh lặp lại lỗi đó. Hoặc khi làm bài viết, nếu không chắc chắn, đừng ngại nhờ một ai có trình độ cao hơn bạn đọc soát lại lỗi giúp nhé.
Dưới đây là 7 lỗi ngữ pháp mà người học tiếng Đức hay mắc phải.
1. Nhầm giữa Gen và Dativ
Lại một cách nhầm tai hại nữa là giữa Gen và Dativ. Như đã nói ở trên Dativ sẽ phải trả lời cho câu hỏi “wo – Ở đâu”. Genetiv là thể sở hữu, ví dụ : Peters Zimmer, des Haus,… Genetiv được dùng khi nói về một cái gì đó được sở hữu bởi ai. Tuy nhiên vẫn có người rất hay nhầm
2. Nhầm giữa Akk và Dativ
Hầu như học sinh đều nhầm cái này rất nhiều, Akkusativ chỉ dùng khi nó trả lời cho câu hỏi Wohin – nghĩa là đi đâu, muốn đến đâu. “zB wohin möchten sie fahren? Ich möchte nach Hause fahren”. Trừ trong một số trường hợp nó đi kèm giới từ như : zu, mit, bei, nach, … thì phải đổi thành Dativ ngay.
Dativ sẽ trả lời cho câu hỏi “wo” nghĩa là ở đâu.”Wo bist du? Ich bin im Supermarkt”. Nó không có trường hợp ngoại lệ. Nếu 1 câu bạn muốn nói nó phải trả lời cho câu hỏi ở đâu thì bạn luôn luôn phải dùng thì Dativ.
3. Sai giống của Danh từ
Tiếng Đức và tiếng việt đều thuộc hệ chữ la tinh chính vì thế có đến hơn 80% số chữ cái là giống nhau. Mỗi ngôn ngữ của mỗi nước lại được biến đổi đi cho phù hợp với địa lý của từng vùng. Tiếng việt cũng giống như tiếng Đức vậy cũng có 3 giống đực (thằng), cái (con), trung (nó). Nhưng như Tiếng Việt thì bạn có thể dễ phân biệt các giống, còn tiếng Đức hầu như chẳng có quy tắc gì về giống cả. Bạn muốn nói tiếng Đức bạn phải học thuộc tất cả những danh từ mà bạn sẽ phải sử dụng kèm theo giống của nó. Muốn không bị sai lầm, bạn chỉ còn cách học thuộc.
4. Sai khi dùng câu Nebensatz
Khi nào sử dụng Nebensatz, khi mà có các từ sau: wahrend, wenn, als, weil, ehe, … Với loại câu này phải để động từ đứng cuối câu và phải chia theo chủ ngữ đứng trước. Điều này tương đối phức tạp vì phải nói chủ ngữ trước nhưng đến cuối câu lại quên mất chủ ngữ là gì cho nên không chia nữa cứ để infinitiv -> sai. Hầu như học sinh mới học tiếng Đức tầm 1 năm trở lại thì đều sai lỗi này khi nói.
5. Sai lầm giữa xác định và Không xác định
Tiếng Đức cũng như tiếng Anh vậy nó cũng có thể xác định và không xác định. Khi nào bạn nói về 1 vật hay 1 sự việc chắc chắn nào đó thì bạn phải dùng thể xác định còn nếu nói về số lượng thì phải dùng thể không xác định.
6. Sai chia đuôi tính từ (Vietnamesiche studenten)
Cái sai của những bạn hay học tiếng Đức là chia sai đuôi tính từ, cái này có 3 nguyên nhân chính: không nhớ giống của danh từ cần chia, không nhớ thì akk, dat, gen hay là nominativ, cũng có thể bạn nhầm lẫn giữa tính từ và danh từ trong tiếng Đức.
Ví dụ: Vietnamesiche Studenten là đúng chứ không phải là Vietnamese Studenten. Vietnamese là danh từ (những người Việt Nam)
7. Nhầm lẫn giữa Als và Wenn
Khi nào dùng “als”: Bạn chỉ được dùng khi nói về 1 thời điểm xác định trong quá khứ như 1 năm nào đó, tuổi, hoặc 1 sự việc chỉ xảy ra không quá 1 lần trong quá khứ.
VD: “zB Als ich 7 jahre war, hatte ich eine schöne Freudin.”
Khi nào dùng “wenn”: Bạn chỉ được dùng khi nói về 1 sự việc cứ lặp đi lặp lại, hoặc nó thay cho từ “nếu (if)”. “Nếu tôi có 1 công việc tốt thì tôi sẽ kiếm được rất nhiều tiền. wenn ich einen guten Beruf hätte, werde ich viel Geld haben”. Nó còn được dùng khi muốn nói về 1 điều ước không có thật.
Những học sinh rất hay nhầm khi sử dụng 2 từ này, nên các bạn hãy chú ý nhé.
Hầu hết khi nói tới du học thì ai cũng hiểu rằng sẽ rất tốn kém. Tuy nhiên mức độ tốn kém là khác nhau khi bạn lựa chọn những đất nước để đi du học khác nhau.
Trả lời cho câu hỏi Du học Hàn Quốc cần bao nhiêu tiền thì phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố khác nhau, nhưng có một yếu tố trong số đó có khả năng giảm thiểu mức chi phí này, đó là các học bổng. Vậy hãy cùng điểm qua các dạng học bổng phổ biến hiện nay để cân nhắc khả năng và lựa chọn cho mình nhé!
Tìm kiếm học bổng giúp giải quyết vấn đề tài chính du học Hàn Quốc cần bao nhiêu tiền
1. Học bổng chính phủ (NIIED và KOICA)
Hàng năm, chính phủ Hàn Quốc lại trao những suất học bổng du học toàn phần cho bậc cử nhân, thạc sĩ và tiến sĩ để thu hút sinh viên quốc tế đến học
Học bổng chính phủ Hàn Quốc cấp cho ứng viên Việt Nam đi học 5 năm (đối với bậc Đại học) và 3-4 năm (đối với bậc Thạc sĩ – Tiến sĩ), tài trợ tiền vé khứ hồi, học phí, bảo hiểm và sinh hoạt phí.
Còn học bổng KOICA cùng mức tài trợ chỉ dành cho công chức nhà nước được giới thiệu bởi KOICA đi học Thạc sĩ trong 2-3 năm.
Đối với hai học bổng toàn phần này, điều kiện tiên quyết trong hồ sơ xin học bổng là bảng điểm đẹp, khả năng ngoại ngữ tốt, và phần giới thiệu bản thân cũng như kế hoạch học tập gây ấn tượng.
2. Học bổng của quỹ POSCO
Học bổng Posco Asia Fellowship ở 2 trường GSIS Yonsei và GSIS SNU được thành lập và phát triển bởi quỹ POSCO Hàn Quốc, học bổng có giá trị rất cao, tương đương với học bổng chính phủ Hàn Quốc nhưng chỉ dành cho bậc Thạc sĩ ở các trường Quốc tế học của đại học Yonsei và SNU (Graduate school of international studies).
Thông tin chi tiết về điều kiện, hồ sơ xin học bổng các bạn có thể tham khảo ở trang web:
Có lẽ những bạn theo học ngành công nghệ, kỹ thuật, khoa học tự nhiên không còn xa lạ gì với loại học bổng này. Đây chính là học bổng của giáo sư trường bên Hàn tài trợ cho bạn để bạn vừa học vừa phục vụ cho công tác nghiên cứu của giáo sư đó. Mức tài trợ của học bổng tùy thuộc vào ngành nghề bạn theo đuổi, trường và từng giáo sư nữa, tuy nhiên điều kiện chung để nhận được học bổng này là bạn phải giỏi nổi trội ở trường Đại học Việt Nam, và tìm được đúng giáo sư cùng ngành và phù hợp với bạn.
Trở thành nghiên cứu sinh trợ giúp cho các giáo sư
4. Học bổng hỗ trợ của từng trường Đại học
Bên cạnh những học bổng có giá trị rất lớn từ chính phủ Hàn Quốc và các quỹ, các trường Đại học Hàn Quốc cũng có những chính sách hỗ trợ để thu hút học sinh quốc tế. Học bổng có thể là 30%-100% học phí, hỗ trợ bảo hiểm, hỗ trợ phí kí túc xá, học bổng hỗ trợ tài chính theo kì. Có thể ví dụ như:
Giảm 50% học phí năm học tiếng, miễn phí kí túc xá 2 năm học chuyên ngành tại ĐHQG Kangwon cơ sở Samcheok
Giảm 30% học phí năm học tiếng tại ĐHQG Kangwon cơ sở Chuncheon
Giảm từ 1 triệu won – 100% học phí năm học tiếng tại ĐH Công giáo Kwandong
Miễn phí kí túc xá 2-3 năm học chuyên ngành tại ĐH nghề DongyangMirae
Còn rất nhiều ví dụ khác về các dạng học bổng như thế này. Có thể thấy mỗi loại học bổng sẽ giúp hỗ trợ mức chi phí khác nhau.
Nếu bạn có khả năng và muốn có học bổng để đi du học Hàn Quốc, hãy liên hệ với chúng tôi: Viện quản trị Nhân lực Quốc tế trường Cao đẳng Công thương Việt Nam.