Đức và những câu thành ngữ “Xanh”
Dưới đây là một số câu thành ngữ Viện QTNLQT sưu tầm được. Đi cùng mỗi thành ngữ tiếng Đức sẽ là những thành ngữ tiếng Anh có nghĩa tương đương.
Du học Nghề CHLB Đức


Cũng như tiếng Anh hoặc một số ngôn ngữ khác, tiếng Đức cũng có các thì, các thì giúp sự vật, sự việc diễn tả được đúng thời gian, sắc thái, đặc điểm. Vậy tiếng Đức có những Thì nào? Cách sử dụng như nào?
Hãy cùng Viện QTNLQT tìm hiểu nhé!
Văn phạm tiếng đức có 6 thì (sechs grammatische Tempora) như sau:
– Das Präsens: thì hiện tại
– Das Präteritum: thì quá khứ Präteritum (quá khứ gần, mới xảy ra, hầu như không dùng cho văn nói, dùng nhiều cho văn viết)
– Das Perfekt: thì quá khứ Perfekt (thường dùng trong văn nói, nếu là văn viết thì thường ở dạng hồi ký, nhật ký,…)
– Das Plusquamperfekt: thì quá khứ Plusquamperfekt (dùng cho cả nói và viết)
– Das Futur I: thì tương lai I ( tương lai gần)
– Das Futur II: thì tương lai II (tương lai xa hơn)
Quá khứ ==> Hiện tại <== Tương lai
Plusquamperfekt ==> Perfekt (dùng cho văn nói) ==> Präteritum ==> Präsens (Hiện tại)<== Futur I + II)
Thì hiện tại dùng để:
Ví dụ: Es klopt. (Có tiếng gõ (cửa).)
Jetzt muss ich gehen. (Bây giờ tôi phải đi.)
Ví dụ: Meine Tochter studiert (jetzt) in Berlin. (Con gái của tôi học ở Berlin
Jeden Tag gehe ich in die Schule. (Mỗi ngày tôi đi đến trường.)
Ví dụ: In einem Monat haben die Kinder Sommeferien. (Một tháng nữa bọn trẻ được nghĩ hè.)
Ví dụ: Die Erde bewegt sich um die Sonne. (Trái đất quay quanh mặt trời.)
Die Winkelsumme im Dreieck beträgt 180º. (Tổng các góc trong một tam giác là 180 độ.)
Eis schmilzt bei 0º Celcius. (Nước đá tan ở 0º độ C.)
Ví dụ: Er arbeitet wohl. (Có lẽ anh đang làm việc.)
Du bist doch am Abend zurück? (Tối anh trở về chứ?)
Ví dụ: Du gehst! (Mày đi đi!)
Ihr schweigt und wartet, bis ihr gefragt werdet! (Chúng mầy phải im lặng và chờ cho đến khi được hỏi đến!)
Ví dụ: 15.Februar 1781: Lessing stirbt. (15 tháng 2 năm 1781: Lessing từ trần.)
1867: Das Kapital (1.band) erscheint. (1967: tập 1 của bộ „Tư Bản“ phát hành.)
Im Jahr 55 v.Chr. laden die Römer in Britannien. ( Năm thứ 55 trước Công Nguyên. những người La-mã đổ bộ lên nước Anh.)
1. Thì Präteritum dùng để diễn đạt những sự việc đã xảy ra trong quá khứ đã được xác định bởi một mốc thời gian.
Ví dụ: Schiller wurde 1759 in Marbach geboren. (Schiller sinh n ăm 1759 ở Marbach.)
2. Thì Präteritum thường dùng trong câu có các yếu tố chỉ thời gian đã qua như gestern (ngày hôm qua), im vorgien Jahr (năm trước),neulich (vừa mới đây) v.v…
Ví dụ: Er arbeitete (gestern) den ganzen Tag. (Hôm qua anh ấy làm việc cả ngày.)
Ví dụ: Erinnerst du dich noch, wie wir oft nachmittags in dem Garten saßen, wie es recht schön war, wie die Rosen dufteten und die Sonne von dem Himmel schien?
(Anh có nhớ không, dạo ấy buổi chiều chúng ta thường ngồi trong vườn, đẹp biết bao khi nhưng bông hoa hồng tỏa hương và ánh nắng mặt trờii chiếu rọi?)
4. Thì Präteritum cũng được dùng để diễn đạt ý nghĩa, suy nghĩ.
Ví dụ: Er dachte angestrengt nach. Wie konnte das geschehen?(Anh ta cố nhớ lại. Làm sao mà chuyện ấy xảy ra được?)
5. Khi muốn mô tả hai sự kiện xảy ra cùng một thời điểm trong quá khứ, người ta thường dùng Präterium.
Ví dụ: Während sie gingen, sprachen sie miteinander. (Trong khi đi đường, họ nói chuyện với nhau.)
1. Thì quá khứ Perfekt diễn tả những sự việc đã xảy ra trong quá khứ. Người ta thường dùng Perfekt trong đàm thoại.
Ví dụ: Wir haben gestern die Stadt besichtigt. (Hôm qua chúng tôi đã tham quan thành phố.)
Ich habe die ganze Nacht nicht geschlafen. (Tôi đã không ngũ suốt đêm.)
2. Thì quá khứ Perfekt cũng dùng để diễn đạt sự việc đã được khẳng định và đã kết thúc rồi.
Ví dụ: Gestern Abend hat sich an der Albertbrücke ein schwerer Verkehrsunfall ereignet. Die Polizei hat festgestellt, dass er durch die Straßenglatte verursacht worden ist.
(Tối qua, một tai nạn giao thông nghiêm trường đã xảy ra trên cầu Albert. Cảnh sát xác định nguyên nhân là do đường quá trơn trợt.)
Regnet es noch? Ja, es hat geregnet. (Trời còn đang mưa à? Vâng, trời đã mưa.)
3. Người ta cũng dùng thí quá khứ Perfekt để diễn đạt một sự việc sẽ xảy ra và hoàn tất trong tương lai (thay cho thì tương lai II).
Ví dụ: Bis zum nächsten Jahr hat er sein Studium abgeschlossen.(đến năm sau thì anh ta sẽ hoàn tất khóa học.)
Morgen haben wir es geschafft. (Ngày mai chúng ta sẽ hoàn thành việc ấy.)
1. Thì quá khứ Plusquamperfekt dùng để diễn tả những sự việc đã xảy ra và kết thúc trong quá khứ.
Ví dụ: Er war schon zu hause angekommen. (Ông ta đã về đếnnhà.)
2. Nếu muốn diễn tả hai sự việc đã diễn ra ở hai thời điểm khác nhau trong quá khứ thì sự việc nào diển ra trước được dùng ở thì Plusquamperfekt, còn sự việc xảy ra sau sẽ ở thì Präteritum.
Ví dụ: Als ich die Arbeit beendet hatte, rief ich den Freund an.(Sau khi đã làm xong việc, tôi đã gọi điện thoại cho bạn.)
Er gestand, dass er das Buch gestohlen hatte. (Nó thú nhận, rằng nó đã đánh cấp quyển sách.)
1. Thì tương lai I thường được dùng để diễn tả một sự việc có thể xảy ra trong hiện tại.
Ví dụ: Er wird jetzt im Büro sein. (Có lẽ bây giờ ông ta ở trong văn phòng.)
Sie wird schon längst in Rom sein. (Có lẽ cô ấy đã đến Rom lâu rồi.)
2. Thì tương lai I thường để diễn tả một lời phát biểu trước về sự việc sẽ xảy ra trong tương lai.
Ví dụ: Unsere Gruppe wird (im nächsten Sommer) im Ferienlagerarbeiten.
(đội của chúng ta sẽ làm việc trong một trại hè (vào mùa hè tới).
a. Thì tương lai I được dùng ở ngôi thứ 1 là lời khẳng định chắc chắn.
Ví dụ: Dem werde ich helfen! (Tôi sẽ giúp đỡ hắn!)
Ich werde darauf bestehen. (Tôi sẽ vượt qua được.)
b. Thì tương lai I được dùng ở ngôi thứ 2 là lời yêu cầu, mệnh lệnh mạnh mẽ, cương quyết.
Ví dụ: Ihr werdet die Aufgaben bis morgen erledigen! (đến ngày mai các em phải làm xong bài tập!)
Du wirst dich jetzt bei Herrn Riedel entschuldigen! (Bây giờ anh phải xin lỗi ông Riedel!)
c. Thì tương lai I thường dùng để diễn tả một lời phỏng đoán cho hiện tại hoặc tương lai (thường ở ngôi thứ 3).
Ví dụ: Er wird sich auf seine Prüfung vorbereiten. (Nó sẽ chuẩn bị cho kỳ thi.)
Er wird morgen (sicher) pünktlich zurück sein. (Ngày mai, anh ấy (chắc chắn) sẽ trở về đúng giờ.)
Das wird schon wahr sein. (điều đó sẽ trở thành sự thật.)
1. Thì tương lai II diễn đạt lời phỏng đoán về những việc đã xảy ra hoàn toàn.
Ví dụ: Da werden Sie sich geirrt haben. (Có lẽ ông đã nhầm rồi đấy.)
2. Thì tương lai II cũng dùng chỉ sự việc sẽ xảy ra trong tương lai. Trong trường hợp này, ta phảI dùng cụm từ chỉ thời gian (morgen, bald, bis, Sonnabend…)
Ví dụ: Morgen wird er die Arbeit beendet haben. (Ngày mai anh ta sẽ kết thúc công việc.)
Nếu muốn nói đến những sự việc xảy ra có liên quan với nhau và dặt trong một câu (mệnh đề chính và phụ) ta cần phải chú ý các điễm sau:
1. Hai sự việc xảy ra đồng thời ở mệnh đề chính và mệnh đề phụ thì hai sự việc đó được dùng ở cùng một thì.
Ví dụ: Wenn es regnet, bleiben wir zu Hause. (thì hiện tại) (Nếu như trời mưa, chúng ta ở nhà.)
Während er im Kino war, ging sein Freund spazieren. (quá khứ Präteritum) (Trong khi anh ta đi xem phim thì bạn anh ta đi dạo.)
2. Nếu sự việc ở mệnh đề phụ diễn ra trước sự việc ở mệnh đề chính thì phải theo qui tắc sau:
a. Nếu mệnh đề chính ở thì hiện tại (Präsens) thì mệnh đề phụ phải dùng thì quá khứ Perfekt.
Nachdem wir die Arbeit beendet haben, fahren wir nach Hause. (Sau khi đã hoàn thành công việc, chúng tôi sẽ đi về nhà.)
b. Nếu mệnh đề chính ở thì quá khứ Präterium thì mệnh đề phụ phải dùng thì quá khứ Plusquamperfekt.
Ví dụ: Nachdem wir die Arbeit beendet hatten, fuhren wir nach hause. (Sau khi đã hoàn thành công việc, chúng tôi đi về nhà.)
3. Nếu sự việc trong mệnh đề phụ diễn ra sau sự việc của mệnh đề chính, ta đặt cả hai sự việc ở cùng một thì.
Ví dụ: Er blieb in England, bis er mit seinem Studium fertig war.(Anh ta ở lại nước Anh cho đến khi hoàn tất khoá học.)
Sie bringt das Kind in den Kindergarten, bevor sie zur Arbeit geht.(Chị ấy đưa con đến nhà trẻ trước khi đi làm.)
a. Thì Perfekt:
• Ở miền Nam nước đức, để diễn đạt sự việc xảy ra trong quá khứ, người ta thường chỉ dùng thì Perfekt. Nhất là trong đàm thoại, trong văn nói, chúng ta lại càng ít gặp dang thức Präteritum. Tuy nhiên, đối với các trợ động từ và động từ tình thái, người ta vẫn thường sử dụng dạng Prätteritum của chúng.
Ví dụ: Normalerweise hat sie eine Stunde eher gegessen, aber seit gestern konnte sie gar nichts nehmen.
(Bình thường cô ta đã ăn sớm hơn một tiếng rồi, nhưng từ hôm qua cô ta không thể ăn gì.)
b. Thì quá khứ Plusquamperfekt:
Diễn đạt sự việc xảy ra, thường dùng trong câu đàm thoại.
Ví dụ: Nachdem sie einander zufällig begegnet waren, gingen sie miteinander.
(Sau khi tình cờ gặp nhau, họ đã cùng đi với nhau.)
(Nguồn Bài Giảng Tác Giả Nguyễn Thu Hương – Nguyễn Hữu Đoàn)

Không ngoại trừ Đức. Ở bất kì quốc gia nào cũng vậy. Ngôn ngữ chính là chìa khóa giúp chúng ta dễ dàng tiếp cận được văn hóa, cuộc sống ở đất nước đó. Đã có rất nhiều trường hợp sốc văn hóa, bất đồng ngôn ngữ mặc dù đã có sự chuẩn bị trước đó . Điều đó khiến cho giấc mơ tri thức của các bạn trẻ bị gián đoạn. (more…)

Nước Đức, hay còn gọi là Cộng hòa Liên Bang Đức không chỉ nổi tiếng với những địa danh mang đậm tính chất công nghiệp, có nền khoa học phát triển hàng đầu thế giới mà còn cuốn hút mọi người bởi những lâu đài nguy nga tráng lệ như trong cổ tích. Dưới đây là top 10 điều đặc biệt thú vị về đất nước xinh đẹp này mà có thể các bạn chưa biết: (more…)

Dưới đây là những ngày nghỉ lễ mà Viện QTNLQT đã tổng hợp. Đây chỉ là những kì nghỉ tại Đức. Cũng cần lưu ý rằng: Quyền quy định về các ngày nghỉ lễ ở Đức thuộc về thẩm quyền ở các bang. Chỉ có Ngày thống nhất nước Đức vào ngày 3. tháng 10 là được liên bang theo khuôn khổ hiệp ước quốc gia ấn định là ngày lễ quốc gia. Tất cả các ngày còn lại là do các bang tự quyết định, tuy nhiên có thêm 8 ngày lễ nữa, mà tất cả 16 bang đều cùng có. Ngoài ra tại 11 bang còn có thêm những ngày lễ riêng.
(Ở đây chúng tôi chỉ liệt kê những ngày nghỉ lễ phổ biến)
Lễ phục sinh là một ngày lễ tôn giáo để tưởng nhớ sự hồi sinh của Chúa từ cõi chết, ngày lễ này chiếm một vị trí vô cùng quan trọng trong Đức tin của Kitô giáo. Vào ngày thứ sáu tuần Thánh (Karfreitag), chính là ngày thứ 6 trước ngày chủ nhật phục sinh, chúa Giê-su bị đóng đinh trên thánh giá theo truyền thống của Kinh thánh – vì vậy ngày này được coi là ngày tang lễ. Ngày thứ 7 là ngày cuối cùng của kì ăn chay kéo dài 40 ngày, khi mà các tín đồ của Kitô thường không ăn thịt và uống rượu để thể hiện truyền thống gột sạch tâm hồn. Tuy nhiên chỉ có một phần rất nhỏ dân số Đức ăn chay vào dịp này, chiếm chỉ khoảng 7%.
Vào cuối tuần lễ Phục sinh, mọi người thường đốt lửa trại Phục sinh. Ở giữa đống lửa trại là một hình nộm bằng rơm, gọi là Judas, tượng trưng cho kẻ phản bội. Đối với nhiều người thì việc đốt lửa Phục sinh chỉ là một truyền thống vốn có chứ cũng không mang ý nghĩa nhiều về tôn giáo. Một phong tục tương tự như vậy nữa chính là những quả trứng phục sinh với mọi kích cỡ, đủ loại màu sắc và chất liệu. Trứng thường được trang trí với cây và bụi. Những quả trứng bằng sô cô la dành cho trẻ em thường được coi là do thỏ phục sinh giấu đi vào ngày chủ nhật Phục sinh.
1.5 chính là ngày quốc tế lao động, ngày này được kỉ niệm không chỉ ở các nước châu Âu mà còn cả ở các châu lục khác. Ngày lễ này bắt nguồn từ thế kỉ 19, nguyên nhân chính là do điều kiện làm việc tồi tệ trong ngành công nghiệp: người lao động phải làm việc từ 11 đến 13 tiếng một ngày và hầu như không nhận được bảo trợ xã hội. Vào năm 1886, có khoảng 400.000 người lao động bất mãn đã cùng tổ chức một cuộc đấu tranh dài ngày để dành quyền làm việc chỉ 8 tiếng một ngày. Đến năm 1890 cuộc đấu tranh này lan sang cả các nước khác như Đức, Pháp.
Sau khi thử nghiệm coi ngày 1.5 là ngày nghỉ, vào thời kì cộng hòa Weimar khoảng năm 1933, Đức quốc xã đã tuyên bố một tư tưởng hoàn toàn trái ngược về ngày nghỉ lễ: họ coi đó là một ngày nghỉ của toàn quốc mà không liên quan đến việc lao động hay quyền của người lao động. Trong những năm 1950, giới công đoàn nhộn nhịp với truyền thống chính trị mới. Tại cộng hòa liên bang Đức, vào ngày này thường diễn ra các cuộc biểu tình, mít tinh của giới công đoàn, những người ủng hộ cho quyền của người lao động.
Ngày lễ này luôn rơi vào thứ 5 và để tưởng nhớ ngày Chúa về trời. Theo truyền thống thì ngày 3 ngày lễ Chúa về lại với trời trong tín ngưỡng Kitô giáo được gọi là “Bitttage“. Vào dịp này, những đức tin thường đi dạo qua cánh đồng và cầu khấn cho một vụ mùa bội thu. Ngoài ra còn có một phong tục khác thông dụng hơn, gốc rễ của nó cũng xuất phát từ những cuộc đi dạo này, chính là Ngày của cha. Vào dịp này, đàn ông thường đi dã ngoại hoặc dạo quanh các nhà hàng khác nhau. Họ thường mang theo xe đẩy với bia hoặc một số loại rượu mạnh khác.
Là ngày nghỉ duy nhất được ấn định theo luật của toàn liên bang. Vào ngày này người ta kỉ niệm sự tái thống nhất giữa hai miền đông và tây Đức. Năm 1949, sau khi kết thúc chiến tranh thế giới thứ 2, phần phía tây nước Đức bị Mỹ, Pháp và Anh chiếm đóng, còn phần phía Đông do Liên minh Xô Viết thời đó chiếm. Từ năm 1949 đến 1990, nước Đức bị chia cắt làm 2, đó là: Cộng hòa liên bang Đức (BRD) ở phía tây và Cộng hòa dân chủ Đức (DDR) ở phía Đông.
Trong những thập kỉ sau đó nổi lên ở Cộng hòa dân chủ Đức những bất đồng với hệ thống chính trị, khi quyền lợi của công dân bị ảnh hưởng nhiều mặt. Những ai không đồng tình với chính sách của chính phủ thì sẽ bị bỏ tù. Để ngăn tình trạng người dân cố trốn từ đông sang tây, chính phủ đã cho xây dựng 1 bức tường ngăn cách giữa 2 miền. Năm 1989 nổ ra một cuộc biểu tình lớn dẫn đến sự sụp đổ của bức tường này. Vào ngày 3.10.1990, hiệp ước thỏa thuận của Đức bắt đầu có hiệu lực. Vào ngày này, cờ thống nhất được treo khắp nơi kể cả những cơ quan chức năng cao nhất cũng treo cờ và hàng ngàn người đổ ra đường để ăn mừng lễ kỉ niệm này.
Ngày lễ này không phổ biến trên toàn nước Đức. Đây là ngày để tưởng nhớ những vị thánh thần và những người đã khuất. Tư tưởng của ngày lễ này là người ta cho rằng, những người quá cố và Chúa đều thuộc cùng một thế giới và họ đều đang quan sát những gì diễn ra trong cuộc sống của người trần. Vào ngày này, mọi người đều tỏ lòng tôn kính với những người đã khuất, họ mang hoa đi tảo mộ và thắp nến tượng trưng cho ánh sáng của sự sống.
Chỉ đối với người Công giáo thì ngày lễ thánh mới đóng một vai trò quan trọng và với những vùng theo đạo này thì đây mới là ngày nghỉ lễ.
Giáng sinh là ngày lễ kỉ niệm sự ra đời của Chúa và được coi là ngày lễ quan trọng nhất trong Ki-tô giáo. Ngoài các nghi lễ Ki-tô giáo như đi nhà thờ, trong thời gian trước khi đến giáng sinh còn có rất nhiều những nghi thức, phong tục khác: Ở nhiều thành phố, chợ giáng sinh đông như hội, tại nhà, mọi người treo những chiếc vòng hoa làm từ cây thông, được trang trí với nến.
Những ngày trước khi đến đêm Giáng Sinh (24.12) được tính theo lịch mùa Vọng. Lịch Vọng thường bao gồm nhiều ô chứa kẹo, mỗi ngày người ta lại bóc 1 ô nhỏ trên lịch để lấy kẹo ăn, thường là sô cô la. Người ta thường tận hưởng đêm Giáng sinh và 2 ngày nghỉ lễ tiếp theo bên gia đình. Truyền thống quan trọng nhất đó chính là việc cùng nhau trang trí cây thông Noel với những quả cầu, nến và cùng nhau ăn một bữa thật ấm cúng, thường có món xúc xích nhỏ, salat khoai tây và ngỗng quay. Buổi tối là lúc của những điều bất ngờ khi mọi người cùng trao đổi quà.
Silvester kỉ niệm sự qua đi của những cái cũ và đón chào những điều mới. Trọng tâm trong ngày lễ ngày là việc bắn pháo hoa vào đêm giao thừa, sau đó thường là màn ăn uống tiệc tùng cùng với bạn bè và gia đình. Truyền thống vào dịp năm mới, tạo ra càng nhiều tiếng ồn càng tốt có lịch sử lâu đời: từ ngày xưa, những người Giéc-manh đã luôn cố gắng dùng tiếng động lớn để xua đuổi ma quỷ. Ngày nay tiếng động này được thay bằng tiếng nổ của pháo hoa.
Chúc các bạn đang và sẽ sống tại Đức có những kì nghỉ lễ vui vẻ.

Khi đến sống tại một môi trường hoàn toàn mới, bạn sẽ không tránh khỏi những bỡ ngỡ. Song việc cần thích nghi, hòa nhập càng nhanh càng tốt là điều cần thiết. Bạn chắc chắn sẽ không muốn người khác nhìn mình bằng ánh mắt khó hiểu, hoặc ánh mắt hình viên đạn khi bạn có những cư xử, hành động khác với văn hóa của họ.
Dưới đây là tổng hợp một số điều cơ bản ai đến Đức cũng cần phải biết, dựa trên bộ quy tắc ứng xử Knigge – Benimmregeln của Đức.
Việc đến không đúng giờ theo văn hóa của nước Đức đó là một việc làm bất lịch sự, thiếu tôn trọng những người xung quanh. Và khiến cho người Đức cảm thấy rất khó chịu và thậm chí là tức giận.
Lý do thì có rất nhiều, ai cũng có thể kể ra rất nhiều lý do và nghe đều rất thuyết phục. Nhưng nếu bạn có sự chuẩn bị thật tốt và có ý thức với việc đi đúng giờ của mình thì việc đó sẽ rất ít khi xảy ra.
Khi giờ học, giờ làm của bạn là 9 giờ sáng thì tức là đúng 9 giờ bạn phải có mặt trong phòng học hoặc nơi làm việc và chuẩn bị tư thế sẵn sàng để học và làm việc. Bạn hãy có mặt trước giờ học ít nhất là 5 đến 10 phút để thay quần áo và làm những việc lặt vặt khác…chứ không phải 9 giờ mới có mặt để thay quần áo…
Khi bạn hoặc con cái bạn được ai đó mời …thì cần phải chú ý đến giờ đến và giờ về được ghi trên thiệp. Đến đúng giờ và về đúng giờ là điều mà chủ nhà rất mong chờ ở bạn. Dù bạn có thấy họ lịch sự tươi cười thế nào thì cũng không được đến quá sớm hay ở lại quá lâu.
Khi bạn đã có Termin với một ai đó, đối với người Đức nó giống như một lời hứa và họ có trách nhiệm phải hoàn thành nó một cách tốt nhất. Trừ những trường hợp bất khả kháng. Vì thế bạn cũng đừng đơn giản bỏ Termin chỉ vì khi hẹn thì thấy thích…nhưng mà bây giờ thì lại thấy hơi lười…nên sinh ra một số lý do như mệt, tàu không chạy…
Khi bạn gặp phải những khó khăn đột xuất dẫn đến việc đến muộn dù là 01 phút hay 05 phút thì hãy thông báo ngay cho người có trách nhiệm hoặc liên quan biết về việc đến muộn của bạn bằng cách gọi điện hoặc nhắn tin và nêu rõ lý do để họ biết.
a. entschuldigen sie bitte herr/ frau…
b. Tut mir leid Hr./Fr….
c. Entschuldigung für die Spätung…
Bạn sẽ dùng Du khi người giao tiếp với bạn đề nghị như vậy hoặc bạn có thể đặt câu hỏi
Kann ich Sie duzen? Nếu người ta đồng ý thì bạn có thể bắt đầu. Nhưng khi đi học thì giữa giáo viên và học sinh thường không bao giờ dùng Du mà luôn luôn dùng Sie
Khi đi uống nước hoặc đi ăn chơi đâu đó cùng những người khác. Thì việc ai đó tự trả tiền của người đó là một nét văn hóa đặc trưng của người Đức.
Muốn trả tiền cho người khác bạn cũng cần phải hỏi. Nếu người ta đồng ý bạn mới được phép trả. Nếu không họ cũng sẽ rất khó chịu. Vì họ quan niệm họ tự làm nuôi sống bản thân, tự chịu trách nhiệm với bản thân, không muốn phải nhờ vả dựa dẫm hay lợi dụng người khác. Và đặc biệt là không muốn phải trả nợ, vì lúc khác họ không biết là có điều kiện để trả nợ hay không.
Khi đi trên các phương tiện giao thông công cộng tuyệt đối không được cười nói to, nô đùa ầm ĩ. Người Đức thích yên tĩnh, nên bạn sẽ nhận được những ánh mắt khó chịu nếu bạn làm như vậy.
Tại nơi ở của bạn, bạn không được phép làm ổn ảnh hưởng đến hàng xóm xung quanh. Đặc biệt là sau 18 giờ tối, bạn không được phép khoan, cưa, mở nhạc to hay làm bất cứ việc gì gây ra tiếng ồn lớn. Gặp người hàng xóm khó tính họ sẽ gọi công an. Và nếu điều này lặp lại nhiều lần bạn có thể bị chủ nhà cắt hợp đồng và mời ra khỏi nhà.
Bạn có thể tổ chức Party vào tối thứ 6 hoặc tối thứ 7 trong tuần đến muộn, khoảng 2 giờ sáng.
Tuy nhiên trước đó 01 tuần, bạn cần phải dán giấy thông báo vào lối ra vào hoặc cầu thang máy để hàng xóm được biết và chuẩn bị trước.
Tất cả mọi hình thức nhìn thấy trên Internet cũng không được điền thông tin cá nhân của mình vào hoặc có ai gọi điện thoại mời mọc…thì không được phép nói ‘‘Ja‘‘ mà phải nói ‘‘Nein‘‘
Vì đó cũng là một dạng ký hợp đồng.
Tuy là đất nước văn minh nhưng ở đâu cũng luôn có những người không tốt. Và người ta tìm mọi cách để lấy tiền của bạn một cách hợp pháp. Họ có cả một bộ máy hoạt động trong lĩnh vực này. Tuy nó là bất hợp pháp, nhưng những người tiêu dùng thông thường không thể tranh cãi với họ. thế nhưng nếu thuê luật sư thì phí lại rất đắt. Nên mọi người thường chịu chấp nhận mất tiền.
Theo quy định của luật pháp Đức, đó là tội hình sự. Bạn có thể bị ngồi tù nếu vi phạm nặng và bạn sẽ bị lưu vào hồ sơ. Mọi công việc của bạn sau này trên nước Đức đều bị ảnh hưởng bởi bộ hồ sơ này.
Tốt nhất là bạn đừng làm gì vi phạm pháp luật trên nước Đức. Vì như thế cuộc sống của bạn giống như đi vào ngõ cụt vậy. Khi bạn sống trên nước Đức trách nhiệm của bạn là phải tìm hiểu pháp luật của nước sở tại. Người ta sẽ không bao giờ chấp nhận lý do là ‘‘không biết thì không có tội‘‘.
Cuối cùng, hãy nhớ câu nói của ông bà ta từ xa xưa “Nhập gia tùy tục”, dù ban đầu có bỡ ngỡ nhưng bạn hãy cố gắng thích nghi nhé!

Không biết những người đó đã lấy thông tin từ đâu về việc có con hay chồng Đức thì sẽ được tự động cấp thẻ trong khi thông tin về việc cấp thẻ định cư dài hạn đã được phía Đức thông báo rộng rãi từ lâu. Còn việc các dịch vụ quảng cáo về việc bán thẻ định cư với giá vài chục ngàn Euro mà đã có một thời gian lan tràn trên mạng xã hội thì tôi không biết họ móc nối với ai để mua, nhưng riêng tôi lại thấy không tin tưởng lắm, vì tôi không nghĩ rằng những người làm ở Sở Ngoại Kiều chỉ vì vài chục ngàn Euro mà để mất một nghề nghiệp tốt bao gồm rất nhiều những quyền lợi mà họ khó khăn lắm mới có được.
Nhưng chuyện này tôi không quan tâm lắm, vì nếu có tiêu cực trong Sở Ngoại Kiều thì việc điều tra là chuyện của cảnh sát. Còn cái chính mà tôi chỉ muốn đề cập đến đó là một số điều kiện mà bạn phải có để được cấp thẻ định cư dài hạn.
đã được phía Đức chính thức áp dụng từ ngày 1.1.2005 theo luật cư trú §9 Abs.2 Satz 1 Aufenthalt G . Và người muốn được cấp thẻ định cư dài hạn phải có đủ một số điều kiện như sau :
** Đã sở hữu 5 năm giấy phép lưu trú ( Aufenthaltserlaubnis)
** Đảm bảo cuộc sống cho bản thân hay gia đình (nếu có)
** Không ăn trợ cấp xã hội hay thất nghiệp
** Đóng đủ 60 tháng hưu trí ( Gesetzlichen Rentenversicherung)
**Không phạm tội ở Đức hay đang bị án treo
** Có trình độ tiếng Đức tương đương chứng chỉ B1 hoặc hơn ( luật mới)
** Có đủ diện tích nhà ở theo luật định
Ngoài ra , thẻ định cư dài hạn còn được cấp cho những trường hợp khác như :
** Có trình độ cao ( §9 AG)
** Có thẻ xanh ( Blauen Karte/ EU ( §19Abs.6 AG)
** Tự hành nghề kinh doanh ( §21 Abs .4 AG)
** Được ở lại vì lý do nhân đạo ( §26Abs.3 und 4 AG)
** Có vợ/chồng quốc tịch Đức ( §28Abs. 2S.1 AG)
** Người gốc Đức hồi hương ( § 38 Abs.1Nr .1 AG )
Sở dĩ luật mới ra phải có B1 hay cao hơn thì càng tốt là đều xuất phát từ phía cộng đồng Hồi giáo ở Đức, vì có một số người đón vợ con sang mà theo luật đạo Hồi thì ngoài việc cô vợ không được phép đi làm mà cũng không được phép đi học tiếng (riêng việc đi học tiếng thì theo tôi nghĩ chắc do mấy ông chồng Hồi giáo bảo thủ cấm vợ mà thôi vì sợ vợ mình ra ngoài nhiều hơn ở nhà).
Mà điều này thì lại không phù hợp với luật pháp của Đức vốn coi trọng về nhân quyền nhất là sự bình đẳng nam nữ. Vì nếu đã sống lâu dài trên nước Đức thì bắt buộc phải biết tiếng Đức, vì ngoài việc giao tiếp thông thường hàng ngày trong cuộc sống và nhất là đối với với phụ nữ nhập cư, thì họ phải có trình độ giao tiếp tốt để có thể đi khám bệnh hay xin việc hoặc nói chuyện với cô giáo ở trường, hàng xóm,…
Vẫn biết rằng có nhiều sự khác nhau giữa nước Đức và một số quốc gia khác, đó là từ phong tục tập quán, văn hóa, ẩm thực, cách sống và nhất là ngôn ngữ. Chính những sự khác nhau đó đã làm cho nhiều người mệt mỏi khi sang Đức, vì họ không lường trước được là họ sẽ phải có rất nhiều nỗ lực để được một cuộc sống ổn định và hòa nhập tốt vào xã hội Đức.
Ngoài ra còn có một số người Việt vì muốn có thật nhiều tiền để quay về VN sống, nên đã dành cả một thời gian dài đi làm nhiều hơn học tiếng. Thời gian duy nhất của họ chỉ biết đi làm kiếm tiền, càng nhiều càng tốt, để sau này về quê hương sống nốt quãng đời còn lại. Nhưng đời lại không như ý muốn, vì dành cả nửa cuộc đời chỉ để kiếm tiền mà tương lai vẫn mờ mịt phía trước , do dồn hết tiền bạc về VN mua nhà cửa đất đai, nhưng lại đứng tên người thân trong gia đình, rồi kết quả là tiền bạc lẫn nhà cửa đều biến mất và cũng mất luôn cả tình thân. Rốt cuộc thì của thiên lại trả về cho địa .
Đó cũng là một số lý do tại sao mà luật phải có B1 mới được cấp thẻ định cư dài hạn đã được chính phủ Đức bổ sung thêm vào luật nhập cư , để ngoài việc giúp người nước ngoài có thể nhanh chóng hòa nhập vào xã hội Đức mà còn nhằm giúp họ không bị thiệt thòi về mọi quyền lợi mà nguyên nhân chính cũng chỉ vì không biết tiếng Đức mà ra .
Nguồn: FB An Thanh Le

Đức là một quốc gia xinh đẹp nằm ở vị trí trung tâm của châu Âu. Mang trong mình vẻ đẹp cổ kính và trầm mặc. Đó của những tòa lâu đài, những ngôi làng trung cổ nước Đức. (more…)

Khi du học nghề tại Đức. Bạn có cơ hội tham gia Ostern – Lễ Phục Sinh tại Đức. Đây là một lễ hội mùa xuân rất quan trọng, bắt nguồn từ thời cổ đại, khi con người còn tin có nhiều thần thánh. (more…)

Du lịch được xem là ngành “công nghiệp không khói” giàu tiềm năng trong xu hướng toàn cầu hóa. Trong đó nhà hàng, khách sạn là những lĩnh vực phát triển “nóng” và vô cùng khát nhân lực trong những năm trở lại đây. (more…)